Nhà thờ Cha Diệp – nơi an nghỉ của Linh mục Trương Bửu Diệp, là điểm đến quen thuộc của du khách khi đến Bạc Liêu gắn liền với sự linh thiêng của cha. Nằm trong địa bàn Ấp 2, xã Tân Long. huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, nhà thờ còn có tên gọi khác là nhà thờ Tắc Sậy

 

1. Vị Trí Địa Lý

Nhà Thờ Tắc Sậy nằm trên quốc lộ 1A, khi xe chạy qua khỏi cây số 2218 khoảng 500m, người ta thấy một ngôi nhà thờ trong khuôn rào cao đẹp. Đó là nhà thờ Tắc Sậy.

Nhà thờ Tắc Sậy nằm trong địa bàn Ấp 2, xã Tân Long, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Còn Họ đạo Tắc Sậy rộng lớn hơn, gồm ấp 2 Thị Trấn Hộ Phòng; Ấp 2, ấp Khúc Tréo B, xã Tân Phong; ấp Thành Thưởng; ấp Quyết Thắng, xã An Trạch, huyện Giá Rai. Địa danh Tắc Sậy, theo những người lớn tuổi ở địa phương: có một con đường tắt, nhỏ, đi ngang qua nhà thờ nằm giữa đám lau sậy, vì phát âm của người miền Nam, chữ “Tắt” thành chữ “Tắc”.

2. Lịch sử Nhà Thờ Tắc Sậy

Nhà Thờ Tắc Sậy

Nhà Thờ Tắc Sậy

Bổn đạo đầu tiên là một ít người từ xa tới như Trà Lồng, Kinh Đức Bà, Hộ Phòng,… Hiện nay không có ai sống trên 80 năm ở họ đạo để cung cấp tài liệu những năm đầu. Tuy nhiên, sổ Rửa tội và những lời truyền khẩu của bậc cổ cựu, chúng ta có thể biết Cha Jules DUCQUET, người Pháp, thuộc Hội Thừa Sai Paris, cha sở họ Bạc Liêu là người khai sáng ra họ đạo. Có lẽ Tắc Sậy là họ nhánh của Bạc Liêu. Chữ ký đầu tiên trong sổ Rửa tội tại họ đạo của Cha Jean Chrysostome CHẾ THANH TRÍ là ngày 10.06.1925. Đây coi như một cột mốc của ngày thành lập họ đạo. Họ đạo tính đến hôm nay, ngày 10.03.2000 vừa tròn 75 năm.

Thời kỳ đầu, chỉ có một số ít giáo dân sống rải rác trong khu rừng rậm rạp lau sậy, đước, mấm… Vì không có an ninh, nên hai Cha Duquet và Chế Thanh Trí thỉnh thoảng ghé qua để Rửa tội, an ủi, nâng đỡ giáo dân. Đến tháng 8.1926 trở thành họ đạo chính. Cha sở đầu tiên là Cha Phaolô TRẦN MINH KÍNH. Thời của Cha đã có nhà nguyện nhỏ tạm bằng cây rừng vách lá, nằm ở bên sông, thuộc ấp Thành Thưởng, xã An Trạch, Giá Rai, trên đất của ông Ba Thái, Cha sở đầu tiên ở từ tháng 8.1926 đến tháng 3.1930.

Tháng 3.1930, Cha Phanxicô TRƯƠNG BỬU DIỆP về nhận nhiệm sở, Ngài dời nhà nguyện về bên quốc lộ, trước là quốc lộ 4 đi từ Cần Thơ xuống Cà Mau, lợp bằng nói, vách ván bổ kho, cất nàh Cha sở, Dì phước. Thời gian làm Cha sở, Ngài quan hệ giúp đỡ lương giáo, nhiều người lương trở lại đạo… Ngài lập thêm nhiều họ đạo quanh vùng Tắc Sậy như: Khúc Tréo, Bà Đốc, An Hải, Chủ Chí, Đầu Sấu, Đồng Gò, Rạch Rắn… Cộng tác với Ngài có hai Dì phước dòng Chúa Quan Phòng và ba ông biện.

Ngài là người có công nhiều với họ đạo vùng này. Tiếng chuông sáng tối vang lên hằng ngày, mời gọi đoàn chiên đến cới Thiên Chúa, trên chuông ngày có tên của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp. Đó là một kỷ vật của Cha còn tại họ đạo. Hoàn cảnh xã hội nhiểu nhương, giáo dân di tản. Sau sự hy sinh anh dũng, chết thay cho hơn 70 tín hữu của Cha ngày 12.03.1946, họ đạo tản mát, nhà thờ, nhà chung, tài sản bị cướp giật, đốt phá, chỉ còn ít gia đình ở lại trong nhiểu nhương. Thời gian từ 1946 đến 1956, thỉnh thoảng có các Cha Gioan Bt. Phạm Bia Vàng, Phêrô Trần Minh Ký, Micae Lê Tấn Công, Alphongsô Nguyễn Thiên Tứ, Phanxicô Nguyễn Văn Dương từ các họ Bạc Liêu, Cái Hưu (Vĩnh Mỹ), Cà Mau đến sang qua giúp đỡ.

Vào năm 1952, Đức Cha Gioan Bt. CHabalier, Giám mục Giáo phận Phnom-Penh (Nam Vang) Campuchia, cùng hai sĩ quan người Pháp muốn tái lập họ đạo, đã kêu gọi hai ông Đôminicô Trần Đại Phước và Phêrô Nguyễn Văn Mạnh, ở Hộ Phòng, về dựng lại nhà thờ. Tình thế yên ổn, giáo dân qui tụ lại dần dần. Ngôi nhà nguyện lại được hình thành, bằng cây tràm lợp lá, hai căn tám thước, để sớm tối cầu kinh. Năm 1956, Cha Louis Marcello ĐẶNG TUẤN ANH (Allbéza) được bề trên cắt cử đến để chăm sóc đoàn chiên. Ngài nới rộng nhà nguyện thành bốn căn dài 12 mét, nhà Dì, nhà xứ dù đơn sơ nhưng cũng là nơi ấm áp tình người, có nơi cho con em học tập. Cha ở họ đạo đến tháng 2.1958.

Đến tháng 8.1958, Cha Gioan Bt. HỒ VĂN ĐỢI về chăm sóc họ đạo. Vì tình hình thiếu an ninh, nên Cha sở thường lánh mặt lên ở trên quận, cách họ đạo 7km, từ đó mới có thêm nhà nguyện, nhà xứ, nhà quý Dì tại Giá Rai. Chiến tranh lại xảy ra, Ngài bất đắc dĩ phải thành lập lực lượng để giữ gìn họ đạo và vùng phụ cận được an toàn. Năm 1963 Cha xây nhà thờ bằng vật liệu kiên cố, rộng 10mét, dài 32mét, lợp thiếc trên phần đất như hiện nay. Rủi ro, Ngài bị trọng thương. Hai họ đạo Tắc Sậy, Giá Rai lại vắng bóng Linh mục, nhà chung hai họ lại vắng lặng, giáo dân một số tìm nơi an toàn để cư ngụ.

Đầu năm 1956, Linh mục Giuse NGUYỄN VĂN TỊCH về làm Cha sở. Quen chịu đựng dẻo dai trong những giai đoạn khó khăn, họ đạo lại hồi sinh. Những hoạt động xã hội, truyền giáo, cơ sở kỹ nghệ được thiết lập tại Hội Phòng. Trường học xây dựng kiên cố, gồm hai dãy, mỗi dãy 4 phòng, đáp ứng nhu cầu học tập của con em lương giáo. Riêng phần Cha ở một nhà lá nhỏ trên đài hội. Cha đã qui tụ những giáo dân di tản do chiến tranh ở Đầu Sấu, Chủ Chí, Chợ Hội lập thành họ đạo Hòa Bình, ở ấp 3, Tân Phong. Ngài đã di hài cốt của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, chôn ở phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo về phía đầu nhà thờ Tắc Sậy năm 1969. Cha ở họ đạo đến tháng 5.1970.

Từ tháng 5.1970 đến tháng 6.1971, Cha Phanxicô LÃ THANH LỊCH về tiếp tục những công việc đang phát triển tại họ đạo. Được một năm, Cha đổi về Viện Đại học Đà Lạt nhận nhiệm vụ mới.

Tháng 7.1971, Cha Antôn NGUYỄN TRI VIỄN được bề trên đặt là Cha sở. Với những cơ sở sẵn có, Ngài chú tâm lo cho giáo dân về mặt tôn giáo nhiều hơn, thường xuyên lên xuống có mặt tại hai họ Giá Rai – Tắc Sậy. Biến cố lớn của đất nước năm 1975 làm thay da đổi thịt con người, có kẻ hoang mang lo lắng, có người vui mừng. Cha ở họ đạo đến tháng 8.1976. Thời gian này có Cha Phêrô Lê Văn Duyên đến giúp khi Cha sở một thời gian đau, đi vắng. Trong giai đoạn giao thời, có Cha Giacôbê Lê Văn Tỏ, Phanxicô Huỳnh Văn Sơn đến họ đạo để ban các Bí tích.

Tháng 4. 1977, Cha Antôn VŨ XUÂN VINH, từ Phó tế lên chức Linh mcụ và nhận nhiệm vụ Cha sở. Theo sự thay đổi địa dư của nhu cầu xã hội, Ngài sửa mặt tiền nhà thờ quay ra quốc lộ 1A, xây đài Đức Mẹ Fatima đứng trên vòng bán nguyệt, xây tháp chuông. Chính Cha là người đã phát động niềm tin vào Cha Phanxicô TRƯƠNG BỬU DIỆP, Ngài di dời hài cốt và xây nên mộ cho Cố Linh Mục. Từ thời Ngài, bắt đầu có nhiều người ở khắp nơi đến để cầu nguyện, xin ơn hoặc cảm ta hồng ân của Thiên Chúa trao ban qua bàn tay, lời nguyện chuyển cầu của Cha Phanxicô. Cha ở họ đạo đến tháng 9.1986.

Tháng 10.1986, nhận bài sai của Đức Giám Mục Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, Cha Martinô NGUYỄN NGỌC TỎ về làm Cha sở họ đạo. Vì phải lấy đất làm chân nền cho quốc lộ 1A, nên trong khuôn viên nhà thờ ngoài những phần đất xây dựng cơ bản nhà thờ, nhà xứ, nhà Dì phước, trường học, phần đất lớn hơn còn lại là ao đìa, lung láng, mương rãnh sình lầy. Theo đà tiến của xã hội vào cuối thế kỷ XX, Ngài san lấp mặt bằng, khi bằng sức lao động con người, khi bằng cơ giới, lót đá thềm trong khuôn viên. Để có nơi trang nghiêm xứng đáng hơn làm nơi thờ phượng, sáng chiều kinh lễ, Ngài đổi mái nhà thờ bằng thiếc thay bằng ngói, sửa lại cung thánh, nền nhà thờ. Theo nhu cầu từng giai đoạn, Ngài di dời và xây mới nhà cộng đoàn Nữ tu, xây dựng nhà xứ mới rộng rãi, thoáng mát. Vừa làm nơi cầu nguyện vừa tạo cảnh quang cho khuôn viên, những tượng đài Đức Mẹ Sầu bi, Mẹ Nhân loại, thánh Têrêsa Hài đồng lần lượt mọc lên. Bờ kè, đường đi cũng được xây dựng, chỉnh trang.

Mối bận tâm lớn của các vị chủ chăn từ ngàn xưa, là mở mang kiến thức và học vấn cho giáo dân để kịp đà tiến cảu xã hội. Vì thế, từ những năm đầu thành lập họ đạo, ngôi trường dù có đơn sơ cũng là nơi cho các em học hỏi cho biết đọc biết viết và thấm nhuần những căn bản giáo lý của đạo. Nhu cầu học tập càng nhiều, Cha phải trùng tu và xây thêm lớp học mới có lầu, vì đất hẹp. Các Nữ tu Chúa Quan Phòng được trao phó trách nhiệm điều khiển và trông nom dạy dỗ con em không phân biệt lương giáo, với sự trợ lực cảu các giáo viên chuyên nghiệp, hơn phân nữa là giáo dân trong họ đạo.

3. Kiến trúc Nhà Thờ Tắc Sậy

Kiến trúc Nhà Thờ Tắc Sậy

Kiến trúc Nhà Thờ Tắc Sậy

Nhà thờ mang kiến trúc lạ và độc đáo gồm có 3 tầng, tầng trệt là nơi để cho khách nghỉ ngơi, tầng 2 và 3 là nơi dâng thánh lễ với tiền sảnh rất rộng. Nơi đặt phần mộ được kiến trúc như một tòa nhà rộng lớn có ba nóc, trong đó nóc chính giữa cao hơn hai nóc phụ có gắn đồng hồ lớn tạo nên điểm nhấn nổi bật cho cả tòa nhà.

Nhiều bức tượng gỗ ở đây đa số bằng gỗ quý, tác phẩm tượng gỗ Hữu Thạo cao 2,5m được đặt tại nhà thờ Tắc Sậy ngày 24/12/2008 với gỗ nét điêu khắc tinh vi càng khiến cho không khí linh thiêng nơi đây thêm trang trọng.

Đến với nhà thờ Tắc Sậy ngoài việc viếng thăm mộ phần của cha Trương Bửu Diệp thì mọi người có thể chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo của nhà thờ công giáo, đây được xem là một trong những nhà thờ đẹp nhất trong các tỉnh miền tây.

Trong khuôn viên nhà thờ, có ngôi mộ chứa hài cốt Cha Phanxicô TRƯƠNG BỬU DIỆP, nhiều người tin tưởng linh thiêng, nhiều khách hành hương đến viếng, mỗi ngày một đông thêm từ thập niên 1990. Ngôi nhà mồ của Ngài được trùng tu và khánh thành ngày 04.06.1989, nhằm lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, bổn mạng họ đạo.

Sau nhiều năm chuẩn bị, trong tuần tỉnh tâm thường niên của các Linh mục địa phận, Đức Cha Emm. Lê Phong Thuận, Giám mục giáo phận Cần Thơ, đã nâng cơ sở Tắc Sậy lên thành TRUNG TÂM HÀNH HƯƠNG THÁNH PHANXICÔ ngày 21.01.1997.

4. Lược sử cha Trương Bửu Diệp

Giáo đường nhà Thờ Tắc Sậy

Giáo đường nhà Thờ Tắc Sậy

Cha Diệp có tên là Trương Bửu Diệp, tên thánh là Phanxicô (1897 – 1946), là một Linh mục Công giáo tại Việt Nam. Ngoài sự linh thiêng của ông, có lẽ ông được biết đến nhiều bởi đã chịu chết thay cho giáo dân cùng bị bắt với mình.

Theo câu chuyện lưu truyền trong dân gian và bổn đạo, vào ngày 12 tháng 3 năm 1946, Linh mục Trương Bửu Diệp bị bắt cùng với gần 100 giáo dân tại họ Tắc Sậy. Tất cả bị lùa đi và nhốt chung tại lẫm lúa (kho lúa) của ông giáo Châu Văn Sự ở Cây Gừa. Theo lời kể của ông Ba Lập thì họ chất rơm chung quanh tính đốt tất cả, nhưng Linh mục Diệp đứng ra tranh đấu cho dân, đồng thời an ủi những người cùng bị giam.

Từ xưa đến nay vẫn theo lời đồn miệng từ dân Cà Mau thì ông đã bị Việt minh giết vì ông đã hy sinh để cứu giáo dân của mình. Ông bị mời đi làm việc ba lần và lần thứ ba thì không thấy trở về nữa. Bổn đạo thấy cửa lẫm để mở ngỏ và họ đã trốn thoát.

Sau đó vài ngày giáo dân đã tìm thấy xác ông dưới một cái ao tại phần đất của ông giáo Sự, với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi, và họ đã đem chôn cất trong phòng Thánh của nhà thờ Khúc Tréo (nay thuộc xã An Trạch, huyện Ðông Hải, tỉnh Bạc Liêu).

Về vấn đề ai đã bắt và giết ông, theo bảng tóm tắt tiểu sử Cha Trương Bửu Diệp hiện dựng tại nhà an nghỉ của ông thì ông bị bắt “vì sự tranh chấp giữa các giáo phái” (nhưng bảng này không ghi rõ người bắt thuộc giáo phái nào). Hiện tại có hai luồng ý kiến cho rằng: hoặc quân Việt Minh, hoặc quân Nhật đã làm điều đó.

Hiện nay, tuy Giáo hội Công giáo chưa xét phong Thánh cho Cha Bửu Diệp, nhưng trong lòng nhiều tín hữu Công giáo, kể cả một số người thuộc các tôn giáo khác, đã coi Cha như một vị Thánh, vì rất nhiều người khấn xin với ngài và được ngài ban cho như ý.

Tại các nhà thờ Công giáo trong nước, rất nhiều giáo dân xin lễ tạ ơn ngài. Đặc biệt, nhiều người không phải tín đồ Thiên Chúa giáo cũng rất kính mến, tin tưởng ở ngài. Những tấm bảng tạ ơn Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp được gắn trên tường trong căn phòng nguyện tại Nhà thờ Tắc Sậy nhiều không biết bao nhiêu mà kể.

Theo một thông tin trên mạng cho biết, ở bên Mỹ cụ Joan Baotixita Võ Hữu Hạnh, một nhà văn lớn tuổi, đã sáng lập “Hội những người con của Cha Trương Bửu Diệp”. Theo cụ, Cha Trương Bửu Diệp đã ban phép lạ cho nhiều người, cả lương cũng như giáo.

Thật là điều kỳ diệu, không phải tự nhiên mà nhà thờ Cha Diệp lại trở nên khang trang như ngày nay. Đó cũng là do sự đóng góp của rất nhiều người từ khắp nơi trong nước và ngoài nước đã tin yêu, quý mến Cha Diệp và được cha Diệp ban cho như ý nguyện.

Đến đây chúng ta sẽ ngỡ ngàng trước sự tráng lệ của một cơ ngơi to lớn, hiện đại, nhà thờ được nguyên tiền xây cất đã hơn 59 tỉ đồng, tức gần 3 triệu đô-la, ấy là chưa kể các pho tượng 12 vị thánh tông đồ lớn gấp 2 hay 3 lần người thật, toàn bằng gõ đỏ tức loại gỗ quý hiện nay không còn có ở Việt Nam (nhưng còn có ở Lào và Campuchia ), giá mỗi pho tượng tới vài trăm triệu đồng, vậy thì tiền “nội thất” cũng tới hàng triệu đô-la. Tất cả những điều trên cũng đủ cho chưng ta thấy được rằng, Cha Diệp rất được tin yêu trong lòng lữ khách.