Trong văn hóa truyền thống của người Việt, mỗi dịp lễ Tết ngoài việc cắm Đào thì người ta lại trồng cây Nêu để xua đuổi quỷ dữ. Cây Nêu coi đây là biểu tượng thiêng liêng, tránh những xui xẻo và mang lại may mắn cho năm mới. Vì sao ngày Tết có phong tục trồng cây Nêu? Nguồn gốc ý nghĩa của tục trồng cây Niêu ngày Tết.

Vì sao ngày Tết lại có phong tục trồng cây Nêu?

Vì sao ngày Tết lại có phong tục trồng cây Nêu?

Sự tích cây Niêu

Ngày xửa ngày xưa, khi xã hội còn mông muội hoang sơ, cuộc sống của con người vô cùng khó khăn thiếu thốn. Người chỉ lo cái ăn cái mặc còn chưa đủ, ấy vậy lại còn bị quỷ thường xuyên quấy nhiễu, khi đó quỷ thì tàn ác, còn người thì hiền lành, nên quỷ bắt nạt, lấn át người. . Và không rõ bằng cách nào, quỷ chiếm đoạt tất cả mọi của cải, vì thế người chỉ còn cách ăn nhờ ở đậu và thuê lại ruộng đất của quỷ để cấy cày sinh sống. Ấy vậy mà quỷ vẫn không bằng lòng.

Quỷ đối với người ngày càng độc ác Chúng dần tăng số tiền thuê ruộng đất mà người phải nộp lên gấp đôi và mỗi năm mỗi nhích lên một ít. Cuối cùng, nhằm chiếm đoạt toàn bộ sức lao động của người, quỷ bắt người phải nộp tiền thuê ruộng đất theo một cách thức đặc biệt do chúng nghĩ ra là  “Ăn ngọn cho gốc”.

Người không chịu, nhưng quỷ dùng áp lực bắt phải theo, nếu không chúng sẽ thu ruộng đất lại. Vì thế, năm ấy sau vụ gặt, quỷ cướp hết thóc gạo, cả cánh đồng chỉ còn trơ ra những rạ là rạ. Tình cảnh xương bọc da thê thảm diễn ra khắp mọi nơi. Quỷ thấy vậy reo cười đắc ý, còn người thì phải ăn rau dại sống qua ngày.

Từ phương Tây, Phật Đà nhìn thấy nỗi khổ của người, Ngài đã nghĩ cách giúp người thoát khỏi sự bóc lột tàn nhẫn của quỷ. Sau mùa đó, Phật dặn người không nên trồng lúa mà hãy cào đất thành luống trồng khoai lang. Người cứ y lời làm đúng như Phật dặn. Quỷ không ngờ người đã trồng khoai lang nên cứ nêu đúng thể lệ như mùa trước: “Ăn ngọn cho gốc”.

Mùa thu hoạch ấy, quỷ rất hậm hực nhìn thấy những gánh khoai lúc lỉu chạy về nhà của người rồi lại đổ thành từng đống lù lù trong sân, còn nhà của quỷ chỉ toàn những dây và lá khoai già cỗi. Nhưng khốn nỗi, thể lệ đã quy định, chúng đành cứng họng không thể chối cãi vào đâu được.

Sang mùa khác, quỷ thay thể lệ mới là: “Ăn gốc cho ngọn”. Phật lại dặn người chuyển sang trồng lúa. Kết quả quỷ lại hỏng ăn. Những hạt lúa vàng theo người về nhà, còn rạ phó mặc cho quỷ. Quỷ tức anh ách nên mùa sau chúng tuyên bố: “Ăn cả gốc lẫn ngọn”. Lần này quỷ nghĩ: “Cho chúng muốn trồng gì thì trồng, đằng nào cũng không tuột khỏi tay chúng ta”. 

Nhưng Phật đã bàn với Người thay đổi giống mới. Phật trao cho người hạt giống cây ngô để gieo khắp mọi nơi mọi chỗ. Đến khi thu hoạch, trước sự tức tối của quỷ, người tha hồ bẻ lấy các bắp ngô giữa thân cây, còn ngọn và gốc cây ngô thì trả lại cho quỷ. Trong nhà người thóc ăn chưa hết thì từng gánh ngô đã tiến về chứa từng cót đầy ăm ắp. Về phần quỷ lại bị một vố cay chua, uất ức đến tận cổ nhưng vẫn không làm gì được vì người đã làm theo thỏa thuận. Cuối cùng quỷ bàn nhau quyết định bắt người phải trả tất cả ruộng đất không cho thuê nữa, chúng thầm nghĩ: “Thà không được gì cả còn hơn là để người ăn một mình”.

Phật nghĩ ra cách bảo người điều đình với quỷ, xin mua lại một miếng đất nhỏ xíu, chỉ vừa bằng bóng một chiếc áo cà sa. Quỷ không hiểu, người bèn giải thích rằng, có nghĩa là người sẽ trồng một cây tre, có mắc một chiếc áo cà sa trên ngọn, khi nắng lên, bóng cà sa che đến đâu trên mặt đất, thì là đất của người, còn lại là của quỷ. Quỷ nghĩ rằng chỉ bóng một chiếc áo thì ăn thua gì, lại thấy người trả giá cao nên nhận lời. Hai bên cùng làm tờ giao ước: Ngoài bóng tre là đất của quỷ, trong bóng tre là đất của người.

Khi người trồng xong cây tre, Phật đứng trên ngọn, tung áo cà sa bay tỏa ra thành một miếng vải tròn. Rồi Phật hóa phép làm cho cây tre cao vút lên mãi, lên mãi đến tận trời. Tự nhiên trời đất trở nên âm u bởi vì bóng của áo cà sa đã dần dần che kín khắp mặt đất. Mỗi lần bóng chiếc áo lấn dần vào đất quỷ, chúng phải dắt nhau lùi mãi, lùi mãi. Cuối cùng quỷ không có đất ở nữa phải chạy ra biển Đông. Vì thế người ta mới gọi là Quỷ Đông.

Thấy đất đai hoa màu đều thuộc về tay người, quỷ rất hậm hực, chúng bèn chiêu tập binh mã vào cướp phá. Lần này người phải chiến đấu với quân đội của quỷ với đầy đủ một bầy ác thú như voi, ngựa, chó ngao, bạch xà, hắc hổ, v.v… rất hung dữ. Dù bọn quỷ rất hung ác, nhưng nhờ có phật giúp đỡ, trận nào quỷ cũng thua. Sau mấy trận bất lợi, quỷ bèn cho quân đi dò xem người và phật sợ gì. Người bèn giả cho chúng biết là rất sợ hoa quả, oản chuối và cơm nắm, trứng luộc. Ðối lại người và phật cũng dò hỏi và biết quân của Quỷ sợ nhất là những thứ như: máu chó, lá dứa, tỏi và vôi bột.

Lần giáp chiến sau đó, quân của quỷ đem thật nhiều hoa quả, oản chuối và cơm nắm, trứng luộc đến ném người và phật. Phật bèn bảo người nhặt hết lấy làm lương ăn, rồi đem máu chó, tỏi ớt, vôi bột vẩy khắp nơi. Quân của quỷ thấy sợ hoảng hồn bỏ chạy tán loạn nên càng thua đậm. Cuối cùng bị phật bắt sống hết, đày ra biển đông. Ngày đi đày, họ tốc nhà quỷ quỳ lạy xin phật thương tình cho phép một năm được hai ba ngày vào đất liền thăm phần mộ của tổ tiên cha ông chúng. Phật thấy chúng khóc vang trời đất, bèn y lời hứa thuận cho.

Từ đó, hàng năm cứ đến ngày Tết Nguyên Ðán là ngày quỷ được phép về đất liền thăm mộ mả tổ tiên, vì vậy người ta trồng lên cây nêu để cho quỷ biết, không dám bén mảng vào chỗ người đang ở. Trên nêu có khánh đất, mỗi khi gió rung thì có tiếng động phát ra để luôn nhắc bọn quỷ nghe mà tránh. Cũng trên đó có buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hái để cho Quỷ sợ. Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía đông và rắc vôi bột xuống đất vào những ngày Tết để cấm cửa quỷ. Cứ thế lâu dần thành ra phong tục trồng cây nêu của người Việt…

Vì thế, trong dân gian có bài ca rằng:

Cành đa lá dứa treo cao, 
Vôi bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà. 
Quỷ vào thì quỷ lại ra, 
Cành đa lá dứa thì ta cứa mồm.

Ý nghĩa phong tục trồng cây Nêu ngày Tết

Ý nghĩa phong tục trồng cây Nêu ngày Tết

2. Ý nghĩa phong tục trồng cây Nêu ngày Tết?

Phong tục cuối năm trồng cây nêu để đầu năm ngọn nêu vươn lên cao đón ánh nắng xuân, sức sống xuân, để cầu cho mọi người mãi mãi một mùa xuân…

Cây nêu trong phong tục lâu đời của dân tộc Việt Nam còn mang triết lý âm dương, bao hàm sự thống nhất và tác động qua lại giữa âm và dương hay sự liên kết giữa động và tĩnh, được biết qua hai chữ Càn (Trời) và Khôn (Đất) nằm trong hình ảnh cái nón và cây gậy của Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Nó bao hàm sự thống nhất và tương trợ giữa Âm và Dương hay sự không tách rời giữa Động và Tĩnh…

Cây nêu ở đây là cây tre dài khoảng 5 - 6 mét, được dựng trước sân nhà vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch, là ngày Táo Quân lên chầu Trời.

Trên ngọn nêu có buộc nhiều thứ (tùy từng địa phương) như cái túi nhỏ đựng trầu cau và ống sáo, những miếng kim loại lớn nhỏ.

Khi có giỏ thổi chúng chạm vào nhau và phát ra tiếng leng keng như tiếng phong linh, rất vui tai. Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu…

Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để Tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Vào đêm trừ tịch còn cho đốt pháo ở cây nêu để mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không maỵ.

Trong phong tục dân gian Việt Nam thông thường cứ xem ngay đến 23 tháng chạp thì cây nêu được dựng, là ngày Táo quân về trời chính vì từ ngày này cho tới đêm giao thừa vắng mặt Táo quân, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, nên phải trồng cây nêu để trừ tà. Đến hết ngày mùng Bảy thì cây nêu được hạ xuống.

Như vậy, trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, cắm cây nêu, cành trúc trước nhà ngày Tết là theo triết thuyết Phật giáo và Lão giáo. Cây nêu trở thành biểu tượng của sự đấu tranh giữa thiện và ác, giữa thiên thần và quỷ dữ nhằm bảo vệ cuộc sống bình yên cho con người. Ngày tết thần linh về trời, tất nhiên con người cần có những "bảo bối" của thần nhằm đề phòng cảnh giác, chống lại sự xâm nhập của ác quỷ lúc con người vui chơi.

Cây nêu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam có đặc điểm khá đa dạng tùy thuộc địa phương, phong tục, dân tộc, giai tầng xã hội của chủ nhân v.v. Có loại cây nêu mang tính nguyên sơ, không gắn liền với lễ hội mà hình thức cổ xưa nhất còn thấy ở cộng đồng người Kinh, với tục dùng cành tre dài cắm trên ruộng sau khi gặt. Khi thấy dấu hiệu này, người ta biết là chủ ruộng giữ lại mầm lúa cho mùa năm sau, không thể tuỳ tiện thả trâu bò vào ăn.

Riêng đối với dân tộc thiểu số, cây nêu loại này xuất hiện ở những vùng rẫy thuộc sở hữu cá nhân chưa khai hoang. Người chủ rẫy tìm bốn cây cao to, chặt đứt ngang thân, dựng ở bốn góc rẫy như bốn cái trụ và gọi đó là cây nêu (Kành Dar).

Người Mường trồng cây nêu vào ngày 28/12 âm lịch, người Hmông  dựng cây nêu trong lễ hội Gầu tào (cầu phúc hoặc cầu mệnh) tổ chức từ ngày 3 đến ngày 5 tháng giêng âm lịch.

Khởi nguyên cây nêu được dựng với ý nghĩa trừ ma quỷ, thờ phụng thần linh và vong hồn tổ tiên, trừ những điều xấu xa của năm cũ. Nhưng theo thời gian cùng với sự phong phú của các đồ lễ treo trên ngọn cây, cây nêu là cầu nối giữa vũ trụ với đất trời.

Trong các lễ hội, cây nêu là tiêu điểm tập trung, cố kết tâm thức cộng đồng. Khi cây nêu được dựng lên, tất cả mọi hoạt động khác đều dừng lại, tạo nên thế cân bình tuyệt đối trong sự vận hành giữa năm cũ và năm mới. Con người yên tâm vui chơi, cả cộng đồng sinh hoạt vui vẻ, quên đi những ưu phiền của năm cũ.

Cách dựng cây nêu ngày Tết

Cách dựng cây nêu ngày Tết

3. Cách dựng cây nêu ngày Tết

Nguyên liệu làm cây nêu

  • Cây dùng làm cây nêu: Cây tre già, cao, to, thẳng, lóng tre đều và trong phong thuy kiêng kỵ nhất là nêu bị cụt ngọt. Trên ngọn để nguyên chùm lá tươi.
  • Dây giằng: 3 dây giằng được làm bằng dây thừng đủ độ bền để giữ cây nêu.
  • Cọc: Cọc tre hoặc cọc sắt đủ độ chắc để buộc dây giằng chân cây nêu.
  • Ngoài ra còn có các vật liệu khác dùng để trang trí cây nêu.

Trang trí cây nêu

Trong phong tục dựng cây nêu cần có một số vật dụng trang trí cây nêu như:

  • Cờ: Cờ hội vuông cỡ lớn treo bên dưới chùm lá tre.
  • Lồng đèn: Trang trí trên đỉnh cây nêu để tạo màu sắc
  • Lá phướn: Ngày xưa làm bằng giấy, bên trên viết tên các vị thần chủ quản trong năm được thiên đình phái xuống như Hành Khiến, Hành Binh, Thái Tuế... Ngày nay lá phướn được làm bằng vải màu đỏ, bên trên viết các câu chữ mang ý nghĩa chúc mừng năm mới. Nội dung câu chữ trên lá phướn có thể sử dụng các câu sau: “Cung chúc tân xuân, cát tường như ý”, “Cung chúc tân xuân, vạn sự như ý”, “Cung chúc tân xuân, quốc thái dân an, phong điều vũ thuận”, “Chúc mừng năm mới”... Khuyến khích sử dụng câu chữ theo kiểu truyền thống. Lá phướn được treo cùng vị trí với cờ hội buông xuống bên dưới.
  • Dụng cụ tạo âm thanh: Lệ xưa treo chuông đất, khánh sành. Nay có thể thay thế bằng chuông gió. Dụng cụ tạo âm thanh treo phía dưới chùm lá tre.
  • Vật mang ý nghĩa tín ngưỡng: Một nhành lá đa, lá dứa hay nhánh xương rồng. Hoặc một giỏ nhỏ được đan bằng tre, bên trong bỏ các loại vàng mã, gạo muối, trầu cau... và một tấm vỉ hình ô vuông được đan bằng nan tre gồm 4 nan dọc và 5 nan ngang tượng trưng cho “Tứ tung ngũ hoành”. Những đồ vật này treo phía dưới chùm lá tre.
  • Trang trí trên dây giằng: Xuân liên và cờ xéo loại nhỏ nhiều màu hoặc các hình thức trang trí khác phù hợp.

Trang trí xung quanh gốc nêu:

  • Câu đối xuân, hình ảnh bánh trái ngày tết.
  • Bột vôi màu trắng rắc dưới đất tạo thành vòng tròn hoặc hình cánh cung quanh gốc, mũi tên hướng ra phía cổng.
  • Ngoài ra, nếu có không gian, có thể kết hợp trang trí liễn đối, hoa - cây cảnh, cờ phướn để tạo cảnh quan cho khu vực.

Ngày dựng cây nêu trong phong tục Việt

  • Trước đây theo phong tuc ở miền Bắc, người dân thường dựng cây nêu vào ngày 23 tháng chạp vì cho rằng từ ngày này vắng bóng Táo Quân nên ma quỹ thường quấy nhiễu. Tại Đàng Trong, theo Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, cư dân thường dựng cây nêu vào ngày cuối năm.
  • Lễ cúng: Cúng đất đai và thổ thần. Lễ vật gồm con gà trống tơ, hương đèn, hoa quả, kim ngân.
  • Hạ cây nêu:
  • Vào ngày mồng 7 tháng giêng (ngày Khai Hạ).
  • Lễ vật cúng gồm con gà trống tơ, hương đèn, hoa quả, kim ngân.